FANDOM


Hiệp Hội Pháp Sư (魔術師協会, Majutsushi Kyōkai?, Mage's Association) hay Hiệp Hội Ma Thuật (魔術協会, Majutsu Kyōkai?) là một tổ chức quốc tế, tự vệ và tự quản được thành lập bởi những người sử dụng ma thuật, với mục đích kiểm soát, che giấu và phát triển ma thuật. Trên danh nghĩa, mọi pháp sư đều có thể gia nhập Hiệp Hội mà không có sự phân biệt sắc tộc hay thể loại ma thuật.[1] Cội nguồn sức mạnh của ma thuật được lấy từ Căn Nguyên. Nhưng do nguồn năng lượng này có giới hạn, nên càng nhiều người sử dụng ma thuật, thì sức mạnh của ma thuật cũng ngày một giảm. Thấy trước được điều này, kể từ thời Trung Cổ, các pháp sư đã quyết định rằng phải giữ kín những bí mật của ma thuật cho một số ít người, và thành lập một tổ chức là tiền thân của Hiệp Hội ngày nay.

Hiệp Hội Pháp Sư không chỉ sở hữu nhiều phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu nhằm phát triển những tiến bộ về Ma Thuật, mà còn bao gồm cả các tổ chức giáo dục với mục tiêu truyền dạy những bí mật của Ma Thuật cho hậu thế.[2] Mặc dù đặt chủ trương trau dồi tri thức lên hàng đầu, Hiệp Hội cũng rất chú trọng việc tăng cường tiềm năng quân sự của họ, dự trữ các nguồn lực để có thể đối phó với những mối đe dọa tiềm tàng từ phía Giáo Hội, các tổ chức ma thuật khác, những thế lực siêu nhiên gây nguy hại đến con người, và cả những cá nhân theo đuổi nghiên cứu bị coi là tà thuật cấm kỵ như Cố Hữu Kết Giới hoặc Ma cà rồng.[1]

Ngoài việc xây dựng những trung tâm nghiên cứu, Hiệp Hội Pháp Sư cũng đồng thời đặt ra những luật lệ nghiêm cấm việc sử dụng ma thuật cho những hành động bất chính. Tuy vậy, họ chủ yếu chỉ quan tâm đến các tội danh có khả năng tiết lộ sự hiện diện của thế giới ma thuật, trong khi những tội ác được thực hiện một cách bí mật thì có thể được bỏ qua.

Lịch sử hình thành

Khoảng năm 960 BC, Vua Solomon băng hà. Thời Đại Thần Thánh xem như chấm dứt từ lúc ông chết. Thực tiễn Thần bí (ma lực trong không khí) trong điều kiện bình thường thì ranh giới này sẽ dần mỏng đi, đến lúc dương lịch thì sẽ trở về số 0. Tuy vậy, những học trò của Vua Solomon vẫn tiếp tục truyền bá Thần Bí sau cái chết của ông.[3]

Vào đêm trước AD, người sử dụng Đệ Nhất Ma Pháp ra đời. Hiệp Hội Pháp Sư được thành lập bởi các pháp sư tồn lại từ Thời Đại Thần Thánh. Hoạt động "Thần bí rốt cuộc sẽ biến mất, nhưng những hiểu biết trong quá khứ phải được bảo tồn". Và rồi--- Vào khoảng 20 năm AD, bằng chứng về Yếu tố hư cấu thứ năm (Ether) được chứng thực. Tân thế giới bắt đầu.[3]

Ma thuật, thần bí thông qua cách hay đổi hình thái để tiếp tục duy trì. Những pháp sư Thời Đại Thần Thánh khác bế quan ở Vùng Biển Lang Thang, Học Viện Atlas, mặc dù không hề tán dương hoạt động của họ, nhưng vẫn thừa nhận nhau đều là những nhà thần bí học, duy trì quan hệ giao hữu. Đây chính là hậu đại của Hiệp Hội Ma Thuật.[3]

Viện Trưởng và bạn bè rất sôi nổi và hoạt bát. Nhờ thế mà lượng người học ma thuật tăng lên nhiều, dần dần lấy lại được sức sống của Thời Đại Thần Thánh. Lúc này, Tử Đồ thường xuyên xuất hiện trong thế giới ma thuật, chúng xem pháp sư là kẻ địch và tấn công. Đến những năm 300, Cuộc chiến ở Thành phố Rừng Hắc Ám, Thiên Niên Thành. Mặt Trăng Đỏ và Ma Đạo Nguyên Soái Kischur Zelretch Schweinorg xảy ra xung đột dữ dội...[3]

Khoảng năm 300~500. Tại các quốc gia Tây Âu, thế lực Giáo Hội Thánh Đường dần bành trướng. Hiệp Hội Ma Thuật suy thoái. Tranh đấu với Crimson Moon để lại vết tai họa to lớn. Ma Thuật tiến vào thời kỳ giá đông. Thành phố ma thuật do hiệp hội ma thuật thành lập cũng dần khép kín, đối lập với Giáo Hội Thánh Đường.[3]

Khoảng năm 500, Ether Thật (Yếu Tố Chân Thuyết Thứ Năm) còn sót lại tại Anh Quốc cũng biến mất. Một số pháp sư xem Anh quốc như căn cứ. Khởi đầu của "Tháp Đồng Hồ".[3]

Vào những năm 600 đến 900. Linh Mộ Albion được khai quật. Tháp Đồng Hồ liên tục đào xuống lòng đất nước Anh, thu được rất nhiều tư sản ma thuật. Tháp Đồng Hồ trở thành ngọn đuốc thắp lên hy vọng của ma thuật trên thế giới đang suy thoái, vô số pháp sư, nhà tư sản đều tụ tập tại đây.[3]

Khoảng năm 900. Thánh nữ nhà Einzbern, Justeaze ra đời. Minh chứng Đệ Tam Ma Pháp đã được lưu truyền từ 1000 năm trước. Rồi 100 năm sau khi Justeaze sinh ra, vào những năm 1000, Đứa trẻ thiên tài Barthomeloi của Tháp Đồng Hồ xuất hiện. Nền tảng của Lord (Quân Chủ) được tầng lớp quý tộc của các pháp sư định ra.[3]

Khoảng năm 1200, Tháp Đồng Hồ trở thành trung tâm thực sự của thế giới ma thuật Chế Độ Lord (Quân Chủ) hoàn thành. Lúc này là thời kỳ Khoa Pháp Chính vẫn được xem là một khoa của mười hai khoa. Zepia đảm nhiệm chức viện trưởng của Học Viện Atlas vào khoảng năm 1400.[3]

Những năm 1600, cách tồn tại của Khoa Pháp Chính bị xem là vấn đề, không xem là một khoa nữa. Sau này, nó trở thành Cục Pháp Chánh, mười hai khoa trở thành mười một khoa. Mãi cho đến những năm 1800, Cách mạng công nghiệp Anh bùng nổ. Dù rằng nó đối với thế giới ma thuật là thiệt hại nặng, nhưng tri thức, kỹ thuật trở nên phức tạp cũng mang đến những điểm tốt. Nó đồng thời cũng thúc đẩy tạo thành đòn công kích lớn nhất vào Giáo Hội Thánh Đường thông qua việc khuếch trương thế lực của "Thế Giới Quan Duy Nhất". Lúc này, việc tranh chấp nội bộ trong vấn đế có thừa nhận cách mạng công nghiệp hay không, cũng trở thành nguyên nhân đấu tranh của Phe Chủ Nghĩa Quý Tộc và Phe Chủ Nghĩa Dân Chủ sau này.[3]

Vì không thể xem nhẹ trường phái luận của ma thuật hiện đại cùng với sự hậu thuẫn từ gia tộc Norwich, nên đã mang nó bổ sung vào chỗ trống của 12 khoa. Ngoài ra, dù được thêm vào trong 12 khoa, nhưng ma thuật hiện đại vẫn bị miệt thị, vậy nên thời kỳ này vẫn chưa sắp xếp Lord.[3]

Hoạt động nội bộ

Hiệp Hội Pháp Sư được chia làm ba chi nhánh chính: Tháp Đồng Hồ, Vùng Biển Lang Thang và Học Viện Atlas. Kể từ khi Tháp Đồng Hồ được chọn làm bản doanh chính của Hiệp Hội thì ba nhánh chính này cũng bắt đầu tách rời khỏi nhau.

Ngoại trừ những pháp sư nhận Phong Ấn Chỉ Định thì những thành viên còn lại có thể tự do rời bỏ Hiệp Hội bất cứ lúc nào. Dù vậy, điều này rất hiếm khi xảy ra vì tất cả thành viên của Hiệp Hội đều được cung cấp một lượng tài nguyên dồi dào cùng một kho tàng kiến thức lưu trữ và rất nhiều lợi ích khác. Đó cũng là lý do mà rất nhiều pháp sư từ khắp mọi nơi trên thế giới đều tập trung tại đây để tận tụy nghiên cứu ma pháp, đồng thời lập nên những bè phái để tranh giành quyền lực và ngân quỹ. Chính vì thế mà mà Hiệp Hội, ngoài việc dẫn đầu về những nghiên cứu ma thuật, cũng đồng thời nổi danh vì sở hữu một cơ cấu cực kỳ phức tạp. Như một hệ quả, dù ở cùng một môi trường học tập, các pháp sư của Hiệp Hội lại hiếm khi chia sẻ thành quả nghiên cứu của họ với nhau.

Hệ thống phân cấp

Có hai dạng phân cấp bậc ở Hiệp Hội Pháp Sư: cấp bậc thông dụng thể hiện trình độ của một pháp sư và danh hiệu hiệu màu sắc đại diện cho sự độc đáo về pháp thuật của pháp sư ấy.

Thang bậc thông dụng

Thứ hạng Tên cấp bậc
1Grand: Quan Vị (冠位グランド, Kan'iGurando?)
2Brand: Sắc Vị (色位ブランド, ShokuiBurando?)
3Pride: Điển Vị (典位プライド, Ten'iPuraido?)
4Fes: Tế Vị (祭位フェス, MatsuiFesu?)
5Cause: Khai Vị (開位コーズ, HiraiKōzu?)
6Count: Trưởng Tử (長子カウソト, ChōshiKaunto?)
7Frame: Mạt Tử (末子フレーム, BasshiFurēmu?)

Cấp bậc cao nhất Grand, có lúc còn được gọi là Vương (王冠, Ōkan?), là cấp bậc mà hiếm người đạt được trong lịch sử của Tháp Đồng Hồ, và cấp Brand chỉ trao cho người ưu tú nhất trong những người giỏi nhất. Pháp sư trưởng thành mà không có năng lực gì xuất sắc, ví dụ như Lord El-Melloi II, thì đạt cấp Fes, pháp sư trung bình thường được cấp Cause, còn những pháp sư nghiệp dư và học viên mới bắt đầu học phép thuật, ví dụ như Sajyou Ayaka, thì cấp Frame.

Aozaki Touko đạt cấp Grand khi cô 20 tuổi, trong khi Kurogiri Satsuki là người trẻ nhất đạt cấp bậc này khi mới 15 tuổi. Trong Fate/Apocrypha, Darnic Prestone Yggdmillennia vốn chỉ đủ tiêu chuẩn nhận cấp Brand nhưng nhờ giỏi các mánh khóe chính trị mà ông được nâng lên cấp Grand, và cũng do nhiều Cuộc Chiến Chén Thánh Á Chủng diễn ra khắp nơi làm giảm đi số lượng pháp sư trên thế giới này.

Danh hiệu màu sắc

  1. Đỏ (赤?)
  2. Lam (青?)
  3. Vàng (黄?)
  4. Cam (橙?)
  5. Tím (紫?)
  6. Lục (緑?)
  7. Đen (黒?)

Pháp sư nào có năng lực đặc biệt còn được Hiệp Hội tôn vinh bằng danh hiệu dựa theo hệ thống màu sắc. Ba màu cao cấp là Đỏ, Lam và Vàng, giành cho pháp sư có năng lực đặc biệt nhất; các màu Cam, Tím, Lục, Đen giành cho pháp sư cấp thấp hơn. Có thể có nhiều hơn một pháp sư cùng đạt một danh hiệu màu sắc.[4]

Hệ thống màu sắc dùng để phân loại các pháp sư khác với Hệ Thống Màu Sắc Quý Phái dùng để phân loại các năng lực đặc biệt liên quan đến ma thuật như Ma Nhãn.

Quan hệ với bên ngoài

Giữa Hiệp Hội Pháp Sư và Giáo Hội Thánh Đường đã tồn tại một giao ước đình chiến từ rất lâu. Tuy nhiên, những cuộc xung đột vũ trang vẫn được diễn ra một cách bí mật.

Vì Hiệp Hội cho rằng những Lý Luận Ma Thuật cơ sở của vùng Trung Đông và những triết lý ma thuật của vùng Viễn Đông không phù hợp với phương pháp giảng dạy của họ, nên cả hai trường phái trên cũng từ chối gia nhập vào Hiệp Hội, và giữ một mối quan hệ trung lập giữa hai bên. Tổ chức pháp sư của Nhật Bản cũng không tham gia vào Hiệp Hội.[1]

Gransurg Blackmore, đứng thứ 16 trong 27 Tử Tông, hiện đang hợp tác với Hiệp Hội Pháp Sư.

Ba Nhánh Chính

Tháp Đồng Hồ

Bài chi tiết: Tháp Đồng Hồ

Atlas

  • Viện Atlas

Viện Atlas (アトラス院, Atorasu In?, Atlas Temple) [5] hoặc Học Viện Atlas (Atlas Academy, Atlas Institute), còn được biết với tên gọi Huyệt Thương Khổng Lồ (巨人の穴倉, Kyojin no Anagura?, The Giant’s Pit). Tên của học viện được đặt theo thần khổng lồ Atlas trong thần thoại Hy Lạp và có thể nó cũng kế thừa nhiệm vụ của vị Titan này. Các nhà giả kim thuật của học viện Atlas là hậu duệ của nữ thần Isis, tổ tiên của pháp sư trong thần thoại Ai Cập. Sự hiện diện của nó ở Ai Cập có lẽ vì mối liên hệ này.[6] Viện Atlas thậm chí còn ra đời trước cả Tháp Đồng Hồ.[7][8]

Học viện Atlas tọa lạc trong những ngọn núi của Ai Cập. [9][10][11][7][8][6] Đây là một cơ sở ngầm dưới lòng đất với rất nhiều điều kỳ bí. Mỗi nhà giả kim thuật đều có xưởng phép của riêng mình, là nơi mà họ tiến hành các cuộc nghiên cứu. Kỹ thuật dùng để xây dựng những phòng thí nghiệm này vẫn còn là một bí ẩn.[6][10]

Kết cấu xây dựng của Atlas khá phức tạp, với những đường hầm được thiết kế sao cho giống một mê cung dưới lòng đất hơn là một học viện. Điều này nhằm gây hoang mang cho bất cứ ai muốn thoát ra ngoài. Ai cũng có thể đi vào, nhưng việc đi ra lại không phải dễ dàng. Khắp mê cung được bố trí hệ thống phòng thủ tự động bằng các khiển sứ linh. Nó có thể là nơi trú ẩn lý tưởng nhưng lại không khác mấy so với một ngôi mộ tập thể.[6]

Trung tâm của học viện là nơi đặt TRI-HERMES. Phần trung tâm này nằm cách mặt đất 500m. Không rõ ai đã xây dựng một hang động khổng lồ như vậy dưới lòng đất, một nơi đủ rộng để chứa cả một thành phố. Trung tâm của Atlas có một bầu trời nhân tạo trong hang động ngầm này.[6]

Là tổ chức độc lập nhất trong ba chi nhánh, Atlas có những mối quan hệ riêng với Giáo Hội Thánh Đường và các tổ chức ma thuật khác. Bởi vì điều này mà Tháp Đồng Hồ và Hiệp Hội Prague không ưa họ.

Kể từ khi Tháp Đồng Hồ trở thành trụ sở chính của Hiệp Hội Pháp Sư, sự giao hòa giữa các chi nhánh đã bị giảm đi.[7][8] Mối quan hệ của Atlas với Hiệp hội Prague, thậm chí với cả trung tâm của Hiệp Hội - Tháp Đồng Hồ, trở nên cực kỳ xấu và luôn giữ khoảng cách.[9]

Thành viên của Atlas gồm những giả kim thuật sư hướng đến việc biến Giải Minh (解明, kaimei?, inquiry), hay còn gọi là "elucidation", thành Nguồn Gốc của Ma Thuật (魔術の祖, Majutsu no So?, the basis of Magecraft), hay còn gọi là "the forefathers/ origins of Magecraft", và Quy Luật của Thế Giới (世界の理, Sekai no Kotowari?, the Laws of the World), hay còn gọi là "the principles/ rationalities of the World",.[6] Tổ chức này có nhiệm vụ đo đạc và phán đoán. Thành viên ở đây chú trọng nhiều đến những chân lý lớn lao trong vũ trụ hơn các nhà giả kim thuật chính thống.[10]

Đây là một nơi tập trung các thiên tài. Không có luật cấm nào ở đây, không có hình phạt nào nhằm ngăn chặn việc tạo ra những vũ khí phi đạo đức, ngoại trừ một quy tắc duy nhất là những gì được tạo ra ở đây không bao giờ được đưa ra ngoài.

Những thành viên của Atlas sử dụng một phương pháp dự đoán tương lai dựa trên thuyết "Ác quỷ của Laplace" (Laplace's Demon). Sau khi viện trưởng đầu tiên của họ dự đoán được ngày tận thế, các giả kim thuật sư tại Atlas đã tìm mọi cách để phát triển một phương pháp có thể ngăn chặn điều đó. Tuy nhiên, tất cả những thứ có khả năng ngăn chặn ngày tận thế đều có thể gây ra một thảm họa thậm chí còn lớn hơn. Cuối cùng, một quy tắc đã được đặt ra rằng mọi phát minh của Atlas chỉ được phép lưu trữ và xử lý trong phạm vi nội bộ. Họ đã theo sát quy tắc này trong suốt hơn hai nghìn năm. Họ lo sợ về những người rời khỏi học viện hơn là bận tâm về các khách viếng thăm.[6]

Tuy nhiên, quy tắc này cũng có ngoại lệ. Atlas đã từng cho những tổ chức khác như Giáo Hội mượn các giả kim thuật sư của mình, với điều kiện bắt buộc là tổ chức đó phải sở hữu một trong bảy bản giao ước đặc biệt mà họ đã in ra trong quá khứ. Việc tìm cách thu thập lại những bản giao ước trên hiện đang là một trong những mối lo ngại chính của Atlas. Tính đến năm 2000, đã có bốn bản giao ước được thu hồi, nhưng vị trí của ba bản giao ước còn lại vẫn chưa được xác định.[6]

Học viện Atlas cung cấp thiết bị điện toán Ngụy Linh Tử quan trọng cho Cơ Quan Bảo Hộ Chaldea, nhờ vậy mà họ có thể phát minh ra TRISMEGISTUS vào năm 2015.[6]

Tại Atlas có một truyền thống kỳ lạ là viện trưởng của Atlas phải mang họ Atlasia trong thời kỳ đương nhiệm của mình.

Giả kim thuật sư của Atlas

Atlas là một học viện chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu và phát triển giả kim thuật, nhưng Giả Kim Thuật của Atlas đã tách rời khỏi dòng Giả Kim Thuật hiện đại (現代錬金術, Gendai Renkinjutsu?, modern Alchemy) có từ thời Trung Cổ.[9][10][6] Câu nói phổ biến trong giả kim thuật "biến kim loại thường thành vàng", đối với thành viên của học viện Atlas mà nói, nó chỉ là "biến đổi vật chất" và không khác gì một thuật thức sơ khai khác xa với lý tưởng của họ. Giả kim thuật của họ là một tiến bộ trong thuật luyện kim của Ai Cập cổ đại, gốc rễ của các định luật, và chưa hề chịu sự ảnh hưởng của ma thuật phương Tây như dòng giả kim thuật của Tháp Đồng Hồ. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng mà các nhà giả kim của học viện Atlas đặt ra thậm chí còn gần hơn với tư tưởng ban đầu của họ, đó là "chuyển hóa các sự kiện".[4]

Các nhà giả kim thuật của Atlas tin rằng con người tiến hóa để thu nhận thông tin, phân tích, tìm ra những chỗ có vấn đề rồi trực tiếp giải quyết chúng. Họ có khả năng đo đạc và tính toán mà hiếm người bình thường nào bẩm sinh đã có.[10] Họ rất giỏi về khả năng phân vùng tư tưởng và tăng tốc suy nghĩ, những kỹ năng điều khiển cơ thể người thành một thể đồng nhất.[12] Với câu tâm niệm "nhanh hơn, mạnh hơn, chính xác hơn", họ xem cơ thể của chính mình như vật dùng để chứa đựng và hiệu chỉnh, nhằm phát triển năng lực của bản thân.[10]

Cách suy nghĩ của họ đối với cơ thể xác thịt của chính họ cũng rất khác biệt. Họ không cho rằng bộ não tồn tại để kiểm soát cơ thể, mà là cơ thể tồn tại chỉ để giúp cho bộ não hoạt động hiệu quả hơn. Nếu muốn một thần đồng toán học thì không cần tìm đến một nhà giả kim mà chỉ cần tìm một kỹ sư là được. Điều khiến cho nhà giả kim khác với kỹ sư là, toàn bộ cơ thể (thân - tâm - trí) hợp nhất lại để phục vụ cho việc tính toán, thực thi và dung dưỡng các sự kiện.[12]

"Chúng ta không cần trở thành người mạnh nhất. Chúng ta tạo ra những gì mạnh nhất."

—Câu châm ngôn của các giả kim thuật sư của học viện Atlas.[6]

Gần như hầu hết các thành viên của Atlas đều sở hữu khá ít Mạch Ma Thuật, vì thế họ không thể thi triển những ma thuật có khả năng tác động đến thế giới tự nhiên.[6][12] Nhưng họ hoàn toàn chấp nhận điều đó. Họ cho rằng không cần phải làm cho bản thân mình mạnh mẽ khi mà họ có thể bù đắp lại bằng cách tạo ra những vũ khí mạnh nhất.[12] Không như đa số pháp sư, những khả năng đặc biệt của các giả kim thuật sư Atlas dựa trên sự tiếp cận giữa người và máy móc.[10] Họ vận dụng phần năng lượng của các Linh Hồn, Ngụy Linh Tử để tạo ra các sinh vật có mạch ma thuật, ví dụ như Homunculi.[6]

Các phát minh

Quy trình mà người ở Atlas sử dụng để nghiên cứu các Thần Bí không phụ thuộc vào Ma Lực. Đổi lại, họ phải phụ thuộc vào rất nhiều công cụ. Sự phát triển của Atlas cũng tương tự như sự phát triển của khoa học kỹ thuật.[6]

Atlas đã xây dựng một kho chứa Lễ Khí khổng lồ,[6][12] mặc dù có thể nói nó không hơn gì một bãi phế liệu. Nhằm ngăn chặn "ngày tận thế" mà viện trưởng đầu tiên của họ đã tiên đoán, họ không ngừng chế tạo vũ khí, và thải bỏ hết cái này đến cái kia như những sản phẩm thất bại. Nguyên do là vì những vũ khí được tạo ra vì mục đích cứu thế giới ấy rút cuộc lại chẳng hơn gì những thứ làm thúc đẩy sự hủy diệt của thế giới.[9]

Trong thế giới ma thuật, những vũ khí này được gọi là Thất Tội. Người ta đồn rằng học viện Atlas đã tạo ra bảy món vũ khí hủy diệt thế giới trước khi nhận ra những hạn chế của chính chúng, và họ đã phong ấn chúng lại.[6] Hiệp Hội Prague cũng có một câu châm ngôn rằng: "Đừng chạm vào niêm phong của Atlas nếu ngươi không muốn thế giới bị hủy diệt bảy lần."[9] Black Barrel là một trong bảy món siêu vũ khí được trưng bày ở Viện Atlas.[13]

HERMES (ヘルメス, Herumesu?)
TRI-HERMES: The Pseudo-Spiritronic Processor (疑似霊子演算装置トライヘルメス, Torai-herumesu, Giji ryōsi enzan sōchi?)

Atlas trong tương lai

EXTRA
Grand Order

Các thành viên đã biết

Zepia Eltnam Atlasia

Trong thế giới Tsukihime, ông là viện trưởng từ vài thế hệ trước và đã rời Atlas khi trở thành Tử Tông Đêm Wallachia. Nhưng trong thế giới Fate thì ông vẫn là viện trưởng.

Sion Eltnam Atlasia

Viện phó học viện Atlas. Trong thế giới Tsukihime, cô được ban cho họ Atlasia, điều đó chứng tỏ rằng cô sẽ là viện trưởng kế nhiệm. Trong thế giới Fate, cô được Zepia nhận nuôi và vẫn mang họ gốc là Sokaris.

Sialim Eltnam Re-Atlasia

Viện trưởng cuối cùng của học viện Atlas trong Fate/Extra.

Hermes Silis Atlasia

Anh ta có Đặc Tính Ma Thuật được gọi là Tương Lai.[14]

Kurogiri Satsuki

Anh đã rời khỏi Viện Atlas vì nhận được Phong Ấn Chỉ Định.

Rani VIII

Vùng Biển Lang Thang

Wandering Sea

Vùng Biển Lang Thang (彷徨海, Hōkō Umi?, Sea of Estray), còn được biết với tên gọi Mộ Đá Di Động (移動石柩, Idō Sekkan?, The Wandering Tomb), là một chi nhánh tích hợp của Hiệp Hội Pháp Sư tại Bắc Âu. Nó bao gồm nhiều tổ chức pháp sư nhỏ rải rác khắp Châu Âu, vốn là tiền thân của Tháp Đồng Hồ hiện giờ. Họ đã ngừng liên lạc với Hiệp Hội Pháp Sư kể từ khi Tháp Đồng Hồ được chọn làm bản doanh chính.[1] Căn cứ của nó là một dãy núi di động. Nó thường lang thang quanh biển như tên gọi, nhưng đôi khi cũng tiếp cận đất liền.

Vùng Biển Lang Thang nằm trên một lớp Kết Cấu giữa thế giới con người và Mặt Sau Của Thế Giới. Phần lớn của kết cấu này chỉ toàn là đại dương, ngoại trừ hòn đảo mà tổ chức này sử dụng làm căn cứ. Hòn đảo này có có thể lặn xuống nước và di chuyển vòng quanh thế giới.[15]

Căn cứ của Vùng Biển Lang Thang không có lối ra vào trên mặt đất. Lối ra vào của nó thật ra nằm ở khoảng bốn mươi mét bên dưới mực nước biển và dẫn đến một khu neo đậu nằm cách mười mét bên dưới mực nước biển. Những người bên trong có thể kéo các con tàu vào vùng neo bằng cách điều khiển các dòng hải lưu, nhưng tàu thuyền bình thường vẫn không thể vào được bằng cách này. Những con tàu thích hợp phải là loại kín hơi hoặc chống chịu được với sự thay đổi áp suất đột ngột bằng phương pháp vật lý hoặc ma thuật. Trong Fate/Grand Order, Sion Eltnam Sokaris tiên đoán về cuộc xâm lăng của các Thần Ngoài Hành Tinh và khởi hành từ Atlas đến Vùng Biển Lang Thang. Tuy các pháp sư của Vùng Biển Lang Thang không quan tâm đến cuộc càn quét kết cấu thế giới của nhân loại vì điều đó không liên quan gì đến Thời Đại Thần Thánh, nhưng họ vẫn cho phép Sion ở lại miễn là cô không quấy rầy họ. Sion và Servant Captain của cô thay đổi lối vào của Vùng Biển Lang Thang sao cho giống với Cơ Quan Bảo Hộ Chaldea.[15]

Vùng Biển Lang Thang chỉ quan tâm đến ma thuật từ Thời Đại Thần Thánh và coi thường ma thuật hiện đại. Nrvnqsr Chaos vốn là một thành viên của tổ chức này.

Trong số những người sáng lập Hiệp Hội Pháp Sư, có nhiều pháp sư dị giáo đã bị trục xuất khỏi Vùng Biển Lang Thang hay Học Viện Atlas và không còn nơi nào để đi. Từ đó, họ thành lập nên các cơ quan sau:

  • Hiệp Hội Prague (プラハ協会, Puraha Kyōkai?, Prague Association) – Một tổ chức nghiên cứu thuật giả kim tuân theo giáo huấn giả kim thuật truyền thống và có ác cảm với Atlas.
  • Tu Viện Sponheim (スポンハイム アビー, Suponhaimu Abī?, Sponheim Abbey) – Một cơ quan hoạt động gần gũi với Tháp Đồng Hồ, Cornelius Alba được cho là Viện Trưởng kế nhiệm.
  • Hiệp Hội Thule (トゥーレ協会, Toūre Kyōkai?, Thule Society) – Một nhóm các pháp sư nghiên cứu ma thuật Rune, sở hữu các bản ghi ngôn ngữ Rune nguyên gốc.

Các thuật ngữ liên quan

Ngũ Đại Nguyên Tố Sư (五大元素使い, Godaigenso Tsukai?, Average One)

Ngũ Đại Nguyên Tố Sư là danh hiệu dành cho những ai có Thuộc Tính Nguyên Tố đối với cả năm nguyên tố cơ bản. Những người này được Hiệp Hội Pháp Sư xem trọng.

Quân Chủ (君主ロード, KunshuRōdo?, Lord)

Hiệp Hội Pháp Sư nói chung hoặc Tháp Đồng Hồ nói riêng nằm dưới sự thống trị của một số gia tộc. Họ được gọi là Lord và là những đối tượng đáng sợ. Họ gồm có ba đại gia tộc và khoảng 20 gia tộc liên quan. Đây là những gia tộc nổi tiếng kể cả trong xã hội bình thường. Những gia tộc này đều có lịch sử phả hệ ngắn nhất là 500 năm và dài nhất là 2000 năm. Dấu tích của họ để lại trong lịch sử xa xưa một cách không ngờ.

Máy Tính Ngụy Linh Tử (疑似霊子コンピューター, Giji ryōshi kompyūtā?), hay còn gọi là Virtual Spiritron Computer,

Bài chi tiết: Máy Tính Ngụy Linh Tử
Là một siêu máy tính vận dụng triệt để Linh Tử được tạo thành bởi lý luận ma thuật Ngụy Linh Tử; một bộ máy có tốc độ xử lý nhanh bằng cách xác định linh hồn của cỗ máy và sử dụng Linh Tử của nó; một thiết bị xử lý song song để tác động vào "thứ" nằm ở một thế giới song song, chủ yếu phát triển xoay quanh linh hồn ở một cõi giới cao hơn. Thiết bị mẫu đầu tiên được hoàn thành vào năm 1980. Khả năng xử lý của nó tương đương hoặc có thể là mạnh hơn chiếc máy tính lượng tử được dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2030 (bản thân dự án máy tính lượng tử đã bị trì hoãn vào năm 1999 bởi tập đoàn Tây Âu).

Phó Sở Hữu (管理者, Kanrisha?, Second Owner) hay Người Quản Lý.

Bài chi tiết: Phó Sở Hữu

Linh Địa (霊地, Reichi?, Spiritual Land)

Bài chi tiết: Linh Địa

Ma Đạo Nguyên Soái (魔道元帥, Madō Gensui?, Wizard Marshal)

Chức danh dành cho người có cấp bậc nhất định trong quân đội của Hiệp Hội. Tính đến nay, những Ma Đạo Nguyên Soái duy nhất được biết đến là Kischur Zelretch SchweinorgBarthomeloi Lorelei. Lưu ý rằng, Lorelei là Ma Đạo Nguyên Soái nắm giữ một đội quân gồm 50 pháp sư ưu tú, đồng thời cũng là viện phó của Tháp Đồng Hồ.

Xưởng phép (工房, Kōbō?, Workshop)

Là phòng thí nghiệm ma thuật của một pháp sư, nơi mà người đó tiến hành các cuộc nghiên cứu và thí nghiệm của mình. Trong quá trình thiết lập Xưởng Phép, công đoạn quan trọng nhất là ngăn không cho ma lực bên trong Xưởng Phép bị rò rỉ, nhằm che giấu sự hiện hữu của nó. Pháp sư thường thiết lập Kết Giới bao quanh Xưởng Phép của mình để bảo vệ bản thân. Bước vào Xưởng Phép của một pháp sư mà không được sự cho phép của người đó sẽ bị xem là một hành động bày tỏ sự thù địch.

Tham khảo

  1. 1,0 1,1 1,2 1,3


  2. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên material1
  3. 4,0 4,1

  4. Trang bìa của Fate/the Fact
  5. 6,00 6,01 6,02 6,03 6,04 6,05 6,06 6,07 6,08 6,09 6,10 6,11 6,12 6,13 6,14 6,15

  6. 7,0 7,1 7,2

  7. 8,0 8,1 8,2


  8. 9,0 9,1 9,2 9,3 9,4


  9. 10,0 10,1 10,2 10,3 10,4 10,5 10,6



  10. 12,0 12,1 12,2 12,3 12,4



  11. 15,0 15,1 Lostbelt 3 Notes
Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.